Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
JIS: Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng Nhật Bản áp dụng cho
hàng công nghiệp (Japan Industrial Standards)
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(Association of South East Asian Nations)
NĐ: Nghị định
NK: Nhập khẩu
QĐ: Quyết định
VCCI: Phòng hương mại và Công nghiệp Việt Nam
(Viet Nam Chamber of Commerce and Industry)
TCMN: Thủ công mỹ nghệ
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
(World Trade Organization)
JETRO: Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản
(Japan External Trade Organization)
XH: Xã hội
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
XK: Xuất khẩu
XNK: Xuất nhập khẩu
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU.
Hình 1.1: Mô hình cạnh tranh 5 nhân tố của M. Porter………………… 14
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủ
công mỹ nghệ Việt Nam………………………………………………….23
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu lao động của Công ty Artexport…………………….27
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tài chính trong năm 2005 – 2006 - 2007 của Công
ty Cổ phần XNK thủ công mỹ nghệ Artexport……………………………28
Bảng 2.2: Kim ngạch XK theo cơ cấu mặt hàng năm 2005 – 2006 – 2007 29
Bảng 2.3: Báo cáo kết quả kinh doanh XNK của Công ty Cổ phần XNK thủ
công mỹ nghệ Artexport năm 2005 – 2006 – 2007……………………… 35
Bảng 2.4. Kim ngạch XK mặt hàng gốm của Công ty Cổ phần XNK thủ
công mỹ nghệ Artexport năm 2005 – 2006 – 2007……………………….40
Bảng 2.5. Kim ngạch XK gốm theo mặt hàng năm 2005 – 2006 – 2007…40
Bảng 2.6. Kim ngạch XK mặt hàng gốm theo thị trường của Công ty Cổ
phần XNK thủ công mỹ nghệ Artexport năm 2005 – 2006 – 2007……….41
Bảng 2.7: Bảng danh mục sản phẩm gốm XK của Công ty (kèm theo mô tả
chi tiết sản phẩm)…………………………………………………………45
Bảng 2.8: So sánh chi phí khi sử dụng lò hộp và lò gas………………… 51
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
LỜI MỞ ĐẦU
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời.
Truyền thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu
hiện bằng những sản phẩm thủ công truyền thống, với những nét độc đáo,
tinh xảo, hoàn mỹ. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có nét riêng và
độc đáo tới mức tên của sản phẩm luôn kèm theo tên làng làm ra nó; sản
phẩm nổi tiếng cũng làm cho làng nghề tạo ra các sản phẩm ấy nổi tiếng.
Nhiều nghề và làng nghề truyền thống của ta đã nổi bật hẳn lên trong
lịch sử văn hoá, văn minh Việt Nam. Ở đó không chỉ tập chung một hay
nhiều nghề thủ công, trở thành một trung tâm sản xuất lớn hoặc khá lớn, mà
còn là nơi hội tụ các thợ và nghệ nhân tài khéo, tạo ra những sản phẩm có
bản sắc riêng, nơi khác khó bề bắt chước được.
Xưa nay, người nước ngoài hiểu và yêu mến Việt Nam, làm bạn với
nhân dân Việt Nam là qua yếu tố gì? Dĩ nhiên là thông qua, hay chủ yếu, là
yếu tố văn hoá. Không coi nhẹ các yếu tố khác, nhưng không thấm nhuần
một nền văn hoá nào cả thì mọi hoạt động đều sẽ bị quên đi, ít ra là sẽ tự nó
nhạt phai đi.
Thật may mắn, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, cũng như bất cứ
của một dân tộc nào khác, chất văn hoá lại rất đậm đà. Trên các sản phẩm
thủ công mỹ nghệ thường biểu đạt phong cảnh sinh hoạt, con người, cảnh
quan thiên nhiên, lễ hội truyền thống, quan niệm về tự nhiên, biểu tượng
thần, Phật Những nét chấm phá nghệ thuật trên tranh sơn mài, tranh lụa,
những bức chạm khắc gỗ, khảm xà cừ với cánh cò bay, cành trúc uốn cong,
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
mái đình, cây đa, con đò bến nước đã thể hiện đất nước - con người và tâm
hồn tình cảm Việt Nam, làm cho người nước ngoài yêu mến nhân dân và đất
nước Việt Nam.
Một vấn đề lớn, cũng là một câu hỏi buộc những nước đang phát triển
như Việt Nam phải giải đáp, đó là thời đại của nền công nghiệp, công nghệ
phát triển cao, Việt Nam có thế mạnh gì để cạnh tranh với thế giới, để có thể
tự cường mà đem "nói chuyện" với các nước công nghiệp phát triển nhất,
nếu không phải trước hết là những sản phẩm truyền thống, những sản phẩm
được làm ra ở trình độ nghệ thuật, kỹ thuật và chất lượng rất cao, mang đậm
màu sắc văn hoá Việt Nam, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng nhân dân các
nước?
Từ những năm đầu khi mới thành lập, ARTEXPORT (Công ty Xuất
nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam, nay là Công ty Cổ phần XNK Thủ
công mỹ nghệ) được Bộ Ngoại thương giao nhiệm vụ tổ chức sản xuất, thu
mua, tái chế, đóng gói kinh doanh xuất nhập khẩu độc quyền hàng thủ công
mỹ nghệ theo kế hoạch của Bộ giao. Trong giai đoạn đầu, Công ty đã vượt
qua nhiều khó khăn, dần tiếp cận được với thị trường các nước. Trải qua
nhiều thách thức trong suốt quá trình hơn 40 năm thành lập và phát triển,
Artexport đã đạt được những thành tích vô cùng đáng khích lệ. Với đội ngũ
cán bộ được đào tạo bài bản, giàu kinh nghiệm, Công ty đã không ngừng
nâng cao kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường tới rất nhiều nước trên
thế giới, mở rộng quy mô sản xuất và đa dạng hoá các sản phẩm, cải tiến
mẫu mã phù hợp với thị hiếu khách hàng. Với sự năng nổ của đội ngũ cán bộ
trong việc giới thiệu sản phẩm tại các hội chợ quốc tế, các cuộc triển lãm
hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm đều mang về cho Công ty những hợp
đồng có giá trị. Công ty đã đạt được nhiều bằng khen, huy chương tại các kỳ
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
tham gia triển lãm, hội chợ tại nước ngoài và luôn là đơn vị chủ trì hoat động
của nhiều hội chợ quan trọng.
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường hiện nay, từ vị trí độc quyền về
xuất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, Artexport phải đối mặt với sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt từ các công ty, thị phần ngày càng thu hẹp. Tuy vậy,
ban lãnh đạo Công ty vẫn quyết tâm giữ vững các ngành và mặt hàng kinh
doanh truyền thống của Công ty, với thủ công mỹ nghệ là ngành chính.
Từ những lý do trên đây, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “ Nâng
cao năng lực cạnh tranh mặt hàng gốm của Công ty Cổ phần xuất nhập
khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport” để làm đề tài báo cáo chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
Mục đích của việc nghiên cứu vấn đề này là: trên cơ sở phân tích những
thế mạnh và tồn tại của thủ sản phẩm gốm Việt Nam và Artexport, người
viết hy vọng đóng góp một số giải pháp nhằm góp phần xác định vị thế cạnh
tranh của Công ty và của sản phẩm gốm Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Báo cáo thực tập tốt
nghiệp này được kết cấu thành ba chương:
Chương I - LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH MẶT HÀNG GỐM XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM
Chương II – THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG GỐM CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ARTEXPORT
Chương III – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
MẶT HÀNG GỐM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ ARTEXPORT
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH MẶT
HÀNG GỐM XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.1.Lý thuyết chung về cạnh tranh
1.1.1.Khái niệm và phân loại cạnh tranh
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của xã hội diễn ra mọi lúc mọi nơi và mọi
hoàn cảnh. Về mặt lý luận, tuỳ từng giai đoạn, tuỳ từng cách tiếp cận và mục
đích nghiên cứu khác nhau mà có quan điểm khác nhau về cạnh tranh.
P. Samuelson cho rằng: “Cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị phần”. Cạnh tranh
là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường và là năng
lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh
tranh quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cạnh
tranh với nhau thông qua yếu tố giá cả, chất lượng, dịch vụ… nhằm thu lợi
nhuận, lôi kéo khách hàng, mở rộng thị phần và nâng cao vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường… Như vậy cùng với việc đáp ứng sự thay đổi nhu cầu
tiêu dùng theo hướng ngày càng đa dạng mà các doanh nghiệp cũng không
ngừng nghiên cứu, phát triên sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ trong
sản xuất, cắt giảm chi phí, phát triển kênh phân phối… góp phần thúc đẩy sự
phát triển toàn diện của nền kinh tế thị trường.
Mặt khác, cạnh tranh cũng là một phương thức vận động của thị trường.
Nói đến thị trường cũng có nghĩa là nói đến sự cạnh tranh giữa các chủ thể
kinh tế mà thực chất cạnh tranh là sự tranh giành về mặt lợi ích kinh tế giữa
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
các chủ thể tham gia thị trường (bao gồm các chủ thể kinh tế; đối tượng
tham gia cạnh tranh – hàng hoá và dịch vụ; và môi trường cạnh tranh): đối
với người mua đó là sự “tranh giành” để có thể mua được hàng hoá có chất
lượng cao với mức giá rẻ; ngược lại đối với người bán, mục tiêu của họ là
tối đa hoá lợi nhuận của minh bằng cách giảm chi phí và giành giật khách
hàng về phía mình.
Hiện tại, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, cạnh tranh được thừa nhận là
một quy luật kinh tế khách quan và là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
điều hành kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế cũng như trong mỗi doanh
nghiệp. Cạnh tranh chính là nhân tố trung tâm không thể thiếu trong các nền
kinh tế thuộc mọi chế độ xã hội, do đó cạnh tranh đòi hỏi cần phải có sự
khuyến khích và bảo vệ của Chính Phủ.
1.1.1.2.Phân loại cạnh tranh
•Xét theo chủ thể cạnh tranh
Xét theo chủ thể cạnh tranh sẽ có các loại hình: cạnh tranh giữa những
người sản xuất hay người bán, cạnh tranh giữa những người mua, cạnh
tranh giữa người bán và người mua.
•Xét theo sự khác biệt về sở hữu tư liệu sản xuất của chủ thể kinh tế
Các thành phần kinh tế đều nằm trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, có
mối liên hệ thống nhất và mâu thuẫn với nhau. Chính từ sự thống nhất và
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
mâu thuẫn này làm nảy sinh cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế với
nhau.
•Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh
Trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế sẽ dùng tất cả các biện pháp, cả
nghệ thuật lẫn thủ đoạn, để đạt được mục tiêu kinh tế của mình. Có những
biện pháp cạnh tranh hợp pháp hay cạnh tranh lành mạnh (Healthy
Competition). Ngược lại, có những thủ đoạn phi pháp, nhằm tiêu diệt đối
phương chứ không phải bằng nỗ lực vươn lên của mình, gọi là cạnh tranh
bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành mạnh (Unfair Competition)
•Xét theo các công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hoá
Xét theo các công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hoá, ta có các
công đoạn: cạnh tranh trước khi bán hàng, trong khi bán hàng và sau khi
bánhàng. Ngoài các loại hình cạnh tranh đã nêu trên, người ta còn xét theo
một số tiêu chí khác nữa: điều kiện không gian, lợi thế tài nguyên, nhân lực,
đặc điểm tập quán sản xuất, tiêu dùng, văn hoá ở từng dân tộc, khu vực,
từng quốc gia khác nhau mà phân loại thành cạnh tranh giữa các nước và các
khu vực trên thế giới; cạnh tranh trong và ngoài nước, cạnh tranh giữa cộng
đồng, các vùng có bản sắc dân tộc và tập quán sản xuất tiêu dùng khác nhau.
1.1.2.Chức năng và vai trò của cạnh tranh.
1.1.2.1.Chức năng của cạnh tranh.
Cạnh tranh khẳng định việc các doanh nghiệp muốn có quyền tự do
hành động, chứ không phải đơn thuần tuân theo các kế hoạch do Nhà nước
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
đặt ra. Các doanh nghiệp có quyền tự do trong việc quyết định cung ứng loại
sản phẩm nào, dịch vụ gì, với số lượng và chất lượng như thế nào, giá cả cụ
thể là bao nhiêu… cũng như có cơ hội công bằng để tồn tại trên thị trường,
để tạo ra lợi nhuận cũng như phải chấp nhận nguy cơ thất bại và bị loại ra
khỏi thị trường. Như vậy, nếu không có cơ hội và rủi ro này hay nói cách
khác nếu không có quyền tự do thâm nhập và rút lui khỏi thị trường, là hai
trong số các ưu thế do cạnh tranh đem lại, cạnh tranh sẽ không thể được duy
trì một cách lâu dài và hiệu quả.
Cạnh tranh dẫn đến thiệt hại cho người này và lợi ích cho người khác,
song nếu xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực.
Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tất cả các chức năng của cạnh tranh
đều bao hàm cả hai yếu tố “kinh tế” và “xã hội” dù trong hầu hết các chức
năng dưới đây, một trong hai yếu tố đó được đánh giá là có vai trò nổi trội
hơn.
1. Cạnh tranh bắt buộc các doanh nghiệp phải đổi mới kỹ thuật, công
nghệ sản xuất, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, thường xuyên đổi
mới mẫu mã sản phẩm.
Mỗi con người đều có các thang nhu cầu cần đáp ứng và theo thời
gian các nhu cầu này ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, mặt khác mỗi
sản phẩm trên thị trường không phải chỉ có một doanh nghiệp cung ứng mà
bên cạnh đó có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, chính vì vậy đòi hỏi bản thân
các doanh nghiệp cần phải thường xuyên đổi mới sản phẩm bằng cách áp
dụng những công nghệ hiện đại vào trong sản xuất. Mỗi sản phẩm mới ra
đời sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng của thị trường, đồng thời sẽ tạo động lực
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: GS.TS. Hoàng Đức Thân
thúc đẩy các doanh nghiệp và cả nền kinh tế phát triển theo hướng văn minh,
hiện đại.
2. Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào, tiết
kiệm chi phí.
Với hầu hết các doanh nghiệp ở mọi nền kinh tế hiện nay thì đều có
một cản trở đó là sự han chế các yếu tố đầu vào, từ các nguồn dầu mỏ, lương
thực đến nước sạch hay không khí sạch; từ nguồn tài nguyên sẵn có tới
nguồn nhân lực… đang ngày càng trở nên đắt đỏ và khan hiếm. Trong điều
kiện đó các doanh nghiệp muốn đạt lợi nhuận cao cũng như tạo ra được lợi
thế cạnh tranh nhất định trên thị trường cần phải tiến hành nghiên cứu kỹ
lưỡng nhằm tối ưu các yếu tố đầu vào, sao cho với một khối lượng các yếu
tố đầu vào nhỏ nhất vẫn có thể đạt hiệu quả tối đa.
3. Cạnh tranh tạo thời cơ và nguồn lực cho chủ thể kinh doanh.
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được cần phải làm thoả mãn
thị trường bằng một sản phẩm hay một dịch vụ nhất định, sự cạnh tranh giữa
các chủ thể kinh doanh trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sẽ tạo động lực
giúp các doanh nghiệp luôn tìm kiếm cơ hội và các nguồn lực để có thể tiếp
cận và chinh phục thị trường một cách hiệu quả nhất.
Một doanh nghiệp nội địa đang trong thời kỳ phát triển sẽ chú ý tới
việc quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp tới các khách hàng mục tiêu bằng
các chương trình quảng cáo, các hội chợ triển lãm, hội nghị khách hàng…
nhằm giới thiệu sản phẩm tới đông đảo người tiêu dùng cũng như củng cố
lòng tin và sự gắn bó của người tiêu dùng đối với sản phẩm/ dịch vụ. Đồng
thời, doanh nghiệp cũng sẽ luôn chú ý tìm kiếm các phương thức và nguồn
Lê Thị Cúc - Thương Mại 46B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét