Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Những nét cơ bản nhất của lịch sử hình thành phép biện chứng

nhiều hạn chế như: coi linh hồn con người là bất tử (đạo Phật) hay phán đoán về thế
giới hiện tượng của phái Jaina.
2. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử phát triển lâu đời vào bậc
nhất thế giới. Đó là một trong những trung tâm tư tưởng lớn nhất của nhân loại thời
cổ. Triết học Trung Quốc cổ đại chịu sự chi phối trực tiếp của những vấn đề chính
trị xuất phát từ hiện trạng xã hội biến động đương thời. Chính vì vậy trong thời kỳ
này, các triết gia Trung Quốc thường đẩy sâu quá trình suy tư về các vấn đề thuộc
vũ trụ quan và biến dịch luận. Song cần phải khẳng định rằng, chủ nghĩa duy vật và
phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại là chủ nghĩa duy vật chất phác
và phép biện chứng tự phát. Có thể thấy một số tư tưởng biện chứng nổi bật của triết
học Trung Quốc cổ đại qua một số trường phái triết học sau:
a. Trường phái triết học Âm Dương gia
Về căn bản, những kiến giải về vũ trụ quan của triết học Trung Quốc cổ đại
mang tinh thần biện chứng sâu sắc (nếu hiểu theo nguyên tắc: phép biện chứng là
học thuyết triết học về sự biến đổi). Điển hình cho tư duy này là học thuyết Âm -
Dương. Nội dung triết học căn bản của phái Âm -Dương là lý luận về sự biến dịch,
được khái quát thành những nguyên lý phổ biến, khách quan và tất yếu.
Một là, phái Âm - Dương nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng
nhất tuyệt đối. Trái lại, tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập, gọi là
sự thống nhất của Âm và Dương. Nói cách khác, Âm -Dương là đối lập nhau nhưng
là điều kiện tồn tại của nhau. Hơn nữa, học thuyết Âm - Dương còn thừa nhận mọi
thực tại trên tinh thần biện chứng là trong mặt đối lập này đã bao hàm khả năng của
mặt đối lập kia. Đây là một cách lý giải biện chứng về sinh thành, về vận động.
Hai là, nguyên lý của sự sinh thành và vận động là có tính quy luật, chu kỳ và
chu kỳ đó được bảo đảm bởi nguyên tắc cân bằng Âm - Dương.
Ba là, nguyên lý phân đôi cái thống nhất trong lôgíc của sự vận động là một
nguyên lý tất định. Nguyên lý đó được khái quát bằng một lôgíc như sau: Thái cực
sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái
tương thôi sinh vô cùng (vạn vật).
Về bản thể luận, phái Âm - Dương quy thế giới về những dạng vật chất cụ thể
Trang 5
và coi chúng là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Theo phái này, nguyên thuỷ của thế giới
bao gồm Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ.
b. Triết học của phái Đạo gia
Người khởi xướng triết học phái Đạo gia là Lão Tử. Những ý kiến luận giải
về Đạo, coi Đạo là nguyên lý duy nhất và tuyệt đối trong sự vận hành của vũ trụ đã
thể hiện rất sâu sắc quan điểm biện chứng của Lão Tử. Trong đó nổi bật lên hai
quan điểm về phép biện chứng của ông là quan điểm về luật quân bình và quan điểm
về luật phản phục. Luật quân bình để giữ cho sự vận hành của vạn vật được cân
bằng, không thái quá mà cũng không bất cập. Phản phục là nói lên tính tuần hoàn,
tính chu kỳ trong quá trình biến dịch của vạn vật.
Sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập cũng là một tư tưởng biện
chứng độc đáo của Lão Tử. Ông cho rằng: có và không sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo
nên nhau, ngắn và dài làm rõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo
nhau. Trong đó, mỗi mặt đều trong mối quan hệ với mặt đối lập, không có mặt này
thì cũng không có mặt kia và giữa chúng chỉ là tương đối. Tuy nhiên, sự đấu tranh
chuyển hoá của các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng không theo khuynh hướng
phát triển, xuất hiện cái mới mà theo vòng tuần hoàn của luật phản phục. Hơn nữa,
Lão Tử không chủ trương giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh của các mặt đối lập
mà ông chủ trương lấy cái tĩnh, cái vô vi để tạo thành sự chuyển hoá theo luật quân
bình. Chính vì thế, phép biện chứng của ông mang tính chất máy móc, lặp đi lặp lại
một cách tuần hoàn.
Trang Tử cũng là một nhà tư tưởng lớn của phái Đạo gia. Học thuyết của
Trang Tử có những yếu tố duy vật và biện chứng tự phát, nhưng thế giới quan của
ông về cơ bản nghiêng về chủ nghĩa duy tâm. Khi quan niệm về vũ trụ (về Đạo),
Trang Tử cho rằng Đạo trời là tự nhiên vốn có không ai sinh ra. Vạn vật đều sinh ra
từ Đạo và biến hoá một cách tự nhiên.
c. Triết học của phái Danh gia
Các tư tưởng biện chứng của phái Danh gia trước hết được thể hiện qua
thuyết tương đối của Huệ Thi. Huệ Thi quan niệm vạn vật trong vũ trụ luôn biến
đổi, chúng có tính tương đối và hàm chứa trong đó những mặt đối lập liên hệ
chuyển hoá qua lại với nhau. Nhưng do tuyệt đối hoá tính chất tương đối của sự vật,
Trang 6
thực tại, tách rời nó với những điều kiện, những mối liên hệ cụ thể nên về cơ bản,
triết học của Huệ Thi mang tính ngụy biện và tương đối luận.
Một biện giả khác của phái Danh gia là Công Tôn Long. Tư tưởng biện
chứng tự phát của Công Tôn Long thể hiện ở quan điểm về tính chất mâu thuẫn của
sự vận động, sự thống nhất biện chứng giữa cái vô hạn và hữu hạn, giữa đồng nhất
và khác biệt. Trong đó, Công Tôn Long đưa ra những mệnh đề có tính chất ngụy
biện, chiết trung như: ngựa trắng không phải là ngựa, trứng có lông, bóng chim bay
không hề động đậy. Nếu Huệ Thi chỉ chú trọng đến tính chất tương đối, sự luôn
biến đổi của sự vật, hiện tượng trong hiện thực, phóng đại một cách phiến diện mặt
tương đối của sự vật và đưa đến kết luận tương đối chủ nghĩa thì Công Tôn Long
lại nhấn mạnh tính tuyệt đối, tính không biến đổi và sự tồn tại độc lập của những
khái niệm so với cái được phản ánh trong khái niệm ấy. Công Tôn Long đã tách rời
cái chung, cái phổ biến ra khỏi những cái riêng, cái cá biệt đi tới phủ nhận sự tồn tại
của những cái cụ thể trong hiện thực.
d. Triết học của phái Pháp gia
Hàn phi là một đại biểu của phái Pháp gia. Kiên quyết phủ nhận lý luận chính
trị thần quyền, Hàn Phi được coi là một nhà vô thần luận nổi tiếng của Trung Quốc
cổ đại. Các tư tưởng triết học của ông biểu hiện rõ tính chất duy vật và biện chứng
tự phát về lịch sử và phương pháp trị nước. Về lịch sử, Hàn Phi cho rằng lịch sử xã
hội loài người luôn biến đổi, từ trước tới nay không có chế độ xã hội nào vĩnh viễn
tồn tại. Mặt khác, ông cho rằng động lực căn bản quyết định sự biến đổi của lịch sử
là do sự thay đổi dân số và của cải xã hội nhiều ít. Do vậy, khi bàn về phương pháp
trị nước, ông cho rằng kẻ thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử,
tuỳ đặc điểm, hoàn cảnh thời thế mà lập ra chế độ, đặt chính sách và phương pháp
trị nước mới cho phù hợp. Không có thứ luật nào luôn luôn đúng với mọi thời đại.
Tuy Hàn Phi chưa thấy được động lực thực sự của lịch sử, nhưng ông đã cố gắng đi
tìm nguyên nhân biến đổi của đời sống xã hội trong điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội.
Tóm lại, do sự hạn chế của trình độ hoạt động thực tiễn và trình độ nhận thức,
triết học Trung Quốc cổ đại mới chỉ dừng lại ở chủ nghĩa duy vật chất phác, cảm
tính và phép biện chứng tự phát, sơ khai. Song với các quan điểm biện chứng trong
Trang 7
cách kiến giải về vũ trụ quan, có thể nói triết học Trung Quốc cổ đại đã đặt cơ sở
rộng lớn cho sự phát triển các tư tưởng biện chứng của triết học nhân loại.
3. Phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI trước CN. Cơ sở kinh tế
của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô
lệ. Khoa học lúc đó chưa phân ngành, các nhà triết học đồng thời là nhà toán học,
vật lý học, thiên văn học, Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy
vật tự phát và biện chứng sơ khai. Đời sống chính trị của Hy Lạp bấy giờ sôi động,
những quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp
xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự
quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng
mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát
triển thế giới quan duy vật và biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại. Có thể tìm hiểu
các tư tưởng biện chứng nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại qua một số đại diện tiêu
biểu sau đây:
a. Talét
Thành tựu nổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng tự
phát. Ông cho rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế
giới. Mọi vật đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước. Theo Talét,
vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh
ra và chết đi. Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi vật biến
đổi không ngừng mà nền tảng là nước. Tuy nhiên, các quan điểm triết học duy vật
của Talét mới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ, cảm tính. Ông chưa thoát
khỏi ảnh hưởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ khi ông cho rằng
thế giới đầy rẫy những vị thần linh.
b. Anaximăngđrơ
Ông là người Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc vấn đề phát sinh và
phát triển của các loài động vật. Theo ông, động vật phát sinh dưới nước và sau
nhiều năm biến hoá thì một số giống loài dần thích nghi với đời sống trên cạn, phát
triển và hoàn thiện dần; con người hình thành từ sự biến hoá của cá. Phỏng đoán của
ông còn chưa có căn cứ khoa học song đã manh nha thể hiện yếu tố biện chứng về
Trang 8
sự phát triển của các giống loài động vật. Khi giải quyết vấn đề bản thể luận triết
học, Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở hình thành vạn vật trong vũ trụ là từ một dạng
vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà người ta không thể
trực quan thấy được. Nếu so với Talét thì Anaximăngđrơ có bước tiến xa hơn trong
sự khái quát trừu tượng về phạm trù vặt chất.
c. Hêraclít
Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác-Lênin, Hêraclít là người sáng lập ra
phép biện chứng, hơn nữa, ông là người xây dựng phép biện chứng trên lập trường
duy vật. Phép biện chứng của Hêraclít chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống
các luận điểm khoa học như sau này, nhưng hầu như các luận điểm cốt lõi của phép
biện chứng đã được ông đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và
triết lý. Các tư tưởng biện chứng của ông thể hiện trên các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất. Theo Hêraclít,
không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả đều
trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại.
Thứ hai, quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự
vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của
những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi của những
mặt đối lập, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập.
Thứ ba, theo Hêraclít, sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới do
quy luật khách quan (logos) quy định. Logos khách quan là trật tự khách quan của
mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy
nghĩ của con người. Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan.
Lý luận nhận thức của Hêraclít còn mang tính chất duy vật và biện chứng sơ
khai, nhưng về cơ bản là đúng đắn. Ở thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học
khác không có tư tưởng biện chứng nào sâu sắc như vậy. Heraclít đã đưa triết học
duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố
biện chứng. Học thuyết của ông đã được nhiều nhà triết học cận đại, hiện đại kế
thừa và phát triển sau này. Mác và Ăngghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị
triết học của Hêraclít, coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ
đại. Tuy nhiên, Mác và Ăngghen cũng vạch rõ những hạn chế, sai lầm của Hêraclít
Trang 9
về mặt chính trị. Đó là tính chất phản dân chủ, thù địch với nhân dân và ông chủ
trương dùng chính quyền để dập tắt nhanh chóng phong trào dân chủ.
d. Pácmênít
Khái niệm trung tâm trong triết học của Pácmênít là tồn tại hết sức trừu tượng
song cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát. Ông cho rằng với cách nhìn
cảm tính thì thế giới vô cùng đa dạng, phong phú, biến đổi không ngừng và vô cùng
sinh động. Nhưng bằng con đường cảm tính đơn thuần không thể khám phá ra bản
chất đích thực của thế giới. Chỉ với cách nhìn triết học phù hợp với trí tuệ lý tính
mới khám phá ra bản chất đích thực của thế giới. Ông cho rằng bản chất của mọi vật
trong thế giới là tồn tại. Học thuyết về tồn tại của Pácmênít đánh dấu một bước tiến
mới trong sự phát triển tư tưởng triết học Hy Lạp, mang tính khái quát cao. Tuy
nhiên, hạn chế trong học thuyết về tồn tại của ông là ở chỗ ông đã đồng nhất tuyệt
đối giữa tư duy và tồn tại và mang tính chất siêu hình vì ông cho rằng tồn tại là bất
biến.
e. Dênông
Dênông là học trò của Pácmênít. Công lao của ông là đã đặt ra nhiều vấn đề
biện chứng sâu sắc về mối liên hệ giữa tính thống nhất và tính nhiều vẻ của thế giới,
giữa vận động và đứng im, giữa tính gián đoạn của thời gian và không gian, giữa
tính hữu hạn và tính vô hạn, và về sự phức tạp trong việc thể hiện quá trình vận
động biện chứng của sự vật vào tư tưởng, vào lôgíc của khái niệm. Tuy nhiên,
những nghịch lý Apôria của ông chỉ có thể được giải quyết nếu đứng trên lập trường
duy vật biện chứng trong nhận thức sự vật.
f. Empêđôcơlơ
Empêđôcơlơ cho rằng nguồn gốc vận động của mọi sự vật là do sự tác động
của hai lực đối lập là Tình yêu và Căm thù. Quan điểm này là một bước thụt lùi so
với Hêraclít, bởi vì triết học Hêraclít giải thích nguồn gốc vận động của vật chất là
do sự xung đột của những mặt đối lập nội tại của sự vật. tuy nhiên, Empêđôcơlơ
cũng có một số phỏng đoán thiên tài về sự tiến hoá của giới hữu cơ. Sự giải thích
này của ông tuy còn ngây thơ nhưng đã manh nha hình thành tư tưởng biện chứng
về quá trình tiến hoá của sinh vật theo con đường từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp.
Trang 10
g. Đêmôcrít
Đêmôcrít là một trong những người đã phát triển thuyết nguyên tử lên một
trình độ mới. Một mặt, ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến của
Pácmênít khi coi các nguyên tử là bất biến, mặt khác, ông kế thừa quan điểm của
Hêraclít cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng. Đêmôcrít đã nêu ra lý thuyết về
vũ trụ học. Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của
vật chất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và có một ý nghĩa đặc biệt trong
lịch sử triết học. Đêmôcrít khẳng định: vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế
giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu diệt. Quan điểm của Đêmôcrít về vận
động gắn liền với vật chất là một phỏng đoán có giá trị đặc biệt. Theo ông, vận động
của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của
nguyên tử ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân, tự nó. Tuy nhiên ông đã không
lý giải được nguồn gốc của vận động. Dựa trên học thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đã
đi tới quan điểm quyết định luận. Đó là thừa nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả,
tính tất nhiên và khách quan của các hiện tượng tự nhiên. Đây là một quan điểm có
giá trị của Đêmôcrít đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại. Về mặt bản thể luận,
Đêmôcrít đã có công đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới. Khác với
nhiều nhà triết học trước đó, phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá
vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã chia nhận thức thành hai dạng là nhận
thức cảm tính và nhận thức chân lý. Mặc dù triết học của Đêmôcrít còn mang tính
chất thô sơ, chất phác song những đóng góp của ông về các tư tưởng biện chứng và
thế giới quan duy vật là rất đáng ghi nhận.
h. Xôcrát và Platôn
Xôcrát và Platôn là hai đại diện tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm Hy
Lạp cổ đại. Triết học Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra bước tiến mới
trong sự phát triển triết học Hy Lạp cổ đại. Nếu các nhà triết học trước Xôcrát chủ
yếu bàn về vấn đề khởi nguyên thế giới, về nhận thức luận thì Xôcrát là người đầu
tiên đưa đề tài con người trở thành chủ đề trọng tâm nghiên cứu của triết học
phương Tây. Theo Xôcrát, ý thức về sự vật của những người trong đàm thoại, ngoài
những yếu tố chủ quan còn có nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang tính
tổng quát. Ông cho rằng nếu không hiểu cái chung, cái phổ biến thì người ta không
Trang 11
thể phân biệt được cái thiện - cái ác, cái tốt - cái xấu. Muốn phát hiện ra cái thiện
phổ biến thì phải có phương pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận, toạ
đàm, luận chiến. Đây chính là yếu tố biện chứng trong triết học Xôcrát, song nó lại
dựa trên lập trường duy tâm vì Xôcrát cho rằng giới tự nhiên là do thần thánh an bài.
Platôn là học trò của Xôcrát. Các quan điểm triết học của ông chứa đựng
những yếu tố biện chứng. Ông thừa nhận sự vận động của thế giới song đó chỉ là
vận động theo sự điều khiển của ý niệm. Ông chia thế giới thành hai loại:
- Thế giới của những ý niệm: là thế giới tồn tại chân thực, bất biến, vĩnh viễn,
tuyệt đối và là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính.
- Thế giới của các sự vật cảm tính: là thế giới tồn tại không chân thực, thường
xuyên biến đổi và phụ thuộc vào thế giới của những ý niệm.
Lý luận nhận thức của Platôn cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng thông
qua các khái niệm đối lập và phương pháp đối chiếu những mặt đối lập. Nhưng đó
là biện chứng duy tâm - biện chứng của các khái niệm, tách rời hiện thực, từ bỏ cảm
giác, chỉ nhận thức bằng tư duy thuần tuý.
Tóm lại, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn còn nhiều hạn chế do
chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đương thời. Song sự xuất
hiện của hệ thống triết học Platôn cùng với phép biện chứng duy tâm đã để lại dấu
ấn trong lịch sử triết học bằng cuộc đấu tranh giữa hai đường lối triết học Đêmôcrít
và Platôn, tạo điều kiện cho tư duy triết học Hy Lạp cổ đại có cơ hội khám phá và
phát triển.
i. Arixtốt
Xu hướng duy vật và tư tưởng biện chứng trong triết học tự nhiên của Arixtốt
thể hiện ở ông thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi
vận động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại bên ngoài sự vật, hơn nữa
sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự vật khác. Ông cho rằng,
vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật hiện tượng của giới tự nhiên. Ông
cũng khẳng định, vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và mãi mãi sẽ
có vận động. Trong lập luận này, ông đã tiến gần đến quan niệm vận động là tự thân
của vật chất. Song cuối cùng ông lại rơi vào duy tâm khi cho rằng thần thánh là
nguồn gốc của mọi vận động. Tuy nhiên, nếu như trước đây Hêraclít và Đêmôcrít
Trang 12
chưa phân biệt được các hình thức của vận động thì đến Arixtốt là người đầu tiên đã
hệ thống hoá các hình thức vận động thành sáu dạng khác nhau. Lý thuyết về vận
động của Arixtốt là một thành quả có giá trị cao của khoa học cổ Hy Lạp. Về lôgíc
học, Arixtốt đã cố gắng giải quyết mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa cái
chung và cái riêng nhưng ông không giải quyết được vấn đề chuyển hoá từ cái riêng
thành cái chung. Lôgíc học hình thức của Arixtốt tuy chưa hoàn hảo song ông đã để
lại cho nhân loại một môn khoa học về tư duy. Chính ông đã nghiên cứu những hình
thức căn bản nhất của tư duy biện chứng mà không tách rời chúng khỏi hiện thực.
Tuy nhiên, do hạn chế về lịch sử và là nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô Hy Lạp cho
nên về bản thể luận triết học, ông dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm nên ông lại rơi vào phái nhị nguyên luận.
Tóm lại, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện rất rõ nét cuộc đấu tranh giữa
biện chứng và siêu hình mà song song với nó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy
vật và chủ nghĩa duy tâm. Với các thành tựu nổi bật như thuyết nguyên tử của
Đêmôcrít, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát, Platôn và phép biện chứng chất
phác của Arixtốt, triết học Hy Lạp cổ đại đã bao chứa mầm mống của tất cả thế giới
quan về sau này và đánh dấu sự phát triển tư duy biện chứng trong lịch sử triết học
nhân loại. Chính vì vậy, Lênin coi phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ
đại là khởi nguyên lịch sử phép biện chứng.
III. SỰ HÌNH THÀNH PHÉP BIỆN CHỨNG THỜI KỲ PHỤC HƯNG
VÀ CẬN ĐẠI Ở TÂY ÂU
Trước khi bước sang thế kỷ XV- XVI ở Tây Âu là thời đại phục hưng, lịch
sử triết học đã trải qua thời kỳ trung cổ với sự thống trị của tư tưởng thần học. Do
đó, chủ nghĩa kinh viện trở thành nét chủ đạo của triết học Tây Âu thời trung cổ.
Trong giai đoạn này, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
được biến tướng thành cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm của phái Duy danh và
Duy thực. Có thể nói đây là bước lùi tạm thời trong lịch sử phát triển tư duy triết
học nói chung và tư duy biện chứng nói riêng, song vẫn chứa đựng những nhân tố
cho sự phát triển mới của triết học trong thời đại phục hưng.
1. Phép biện chứng trong thời kỳ phục hưng
Trong thời kỳ này, chủ nghĩa duy vật được khôi phục và biến đổi cùng với sự
Trang 13
biến đổi của khoa học tự nhiên và dựa vào những thành tựu của khoa học tự nhiên
để tiến hành cuộc đấu tranh chống thế giới quan thần học. Nhiều học thuyết triết học
thời kỳ này đã phục hồi phép biện chứng tự phát thời cổ đại và khái quát thành
những thành tựu của khoa học tự nhiên tiên tiến. Một số tư tưởng biện chứng nổi bật
của thời kỳ này được thể hiện trong triết học của Kudan và Brunô.
a. Triết học Kudan
Tư tưởng biện chứng của Kudan được thể hiện qua học thuyết về sự phù hợp
của các mặt đối lập. Song lập trường triết học của ông lại không thoát khỏi tính chất
duy tâm thần bí khi cho rằng Thượng đế là sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
Kudan cũng đã nêu lên tính tương đối của nhận thức con người, mặc dù còn hạn chế
song nó đã đặt nền móng cho tư tưởng biện chứng về quá trình nhận thức cho triết
học về sau.
b. Triết học của Brunô
Brunô có vai trò quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng. Ông nêu ra tư
tưởng biện chứng về sự phù hợp của các mặt đối lập trong sự thống nhất vô tận của
vũ trụ. Theo ông, trong giới tự nhiên, mọi cái đều có liên hệ với nhau và đều vận
động. Cái này mất đi thì cái khác ra đời, không chỉ là sự vận động mà còn là sự
chuyển hoá giữa các mặt đối lập, ví dụ như tình yêu chuyển thành căm thù và ngược
lại hay thuốc độc cũng chữa được bệnh. Về mặt nhận thức luận, Brunô đã đưa ra quan
niệm biện chứng trong việc nhận thức giới tự nhiên. Ông cho rằng ai muốn nhận thức
những bí mật của giới tự nhiên thì hãy xem xét cái tối thiểu và cái tối đa của những
mâu thuẫn và những mặt đối lập. Mặc dù có những tư tưởng tiến bộ nhưng thế giới
quan triết học của Brunô vẫn chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học sai lầm của Arixtốt
coi vật chất đầu tiên là hoàn toàn thụ động, phải nhờ đến tính năng động của hình
dạng thì nó mới có tính năng động.
2.Phép biện chứng trong thời kỳ cận đại
Triết học thời kỳ này gắn chặt với các thành tựu của khoa học tự nhiên. Nếu
như triết học cổ đại dựa trên cơ sở quan sát và các phỏng đoán thiên tài thì thời kỳ
này triết học lại dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên, khái quát các thành
tựu của khoa học tự nhiên và được chứng minh bằng khoa học tự nhiên. Các nhà
khoa học tự nhiên thời kỳ này cũng đồng thời là nhà triết học. Tuy nhiên, triết học
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét