TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 5
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
1.2. Vai trò và giá trị của thương hiệu.
Stephen King của tập đoàn WPP đã từng khẳng định rằng: “Sản phẩm là cái
mà doanh nghiệp tạo ra trong sản xuất, còn cái mà khách hàng chọn mua lại là
thương hiệu. Sản phẩm có thể bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước còn thương hiệu
là tài sản riêng của doanh nghiệp. sản phẩm nhanh chóng bị lạc hậu còn thương
hiệu (nếu thành công) thì có thể còn mãi với thời gian.”
1.2.1. Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp.
• Thương hiệu tạo ra được sự bền vững về mặt vị thế cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
• Thương hiệu giúp doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận khách hàng và mở
rộng thị trường.
• Thương hiệu là dấu hiệu thể hiện sự cam kết của doanh nghiệp.
• Thương hiệu góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị doanh nghiệp.
• Thương hiệu là niềm tự hào của quốc gia – dân tộc.
• Khẳng định đẳng cấp chất lượng trước khách hàng.
• Đưa sản phẩm ăn sâu vào tâm trí khách hàng.
• Nguồn gốc của lợi nhuận.
1.2.2. Vai trò của thương hiệu đối với người tiêu dùng.
• Thương hiệu tạo niềm tin trong tiêu dùng sản phẩm.
• Xác định nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm.
• Thương hiệu bảo vệ lợi ích chính đáng của người mua.
• Thương hiệu làm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tiêu dùng của người mua.
• Thương hiệu giúp người mua nhận ra sản phẩm cụ thể mà họ thích hoặc
không thích, giúp họ dễ dàng mua những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu và mong
muốn của họ và giảm thời gian cần thiết để mua sản phẩm.
• Khẳng định giá trị bản thân.
• Yên tâm hơn về chất lượng.
1.2.3. Thương hiệu- tài sản lớn nhất của doanh nghiệp.
Tài sản thương hiệu của doanh nghiệp có thể được xem là phần chênh lệch
giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và gía trị sổ sách trên bảng tổng kết tài sản
của nó.
Cựu chủ tịch công ty Quaker Oats đã nói: “ Nếu phải chia đôi công ty thì tôi
sẽ chọn thương hiệu và danh tiếng của công ty, để lại cho tất cả các bạn tất cả tài
sản khác”. “Thương hiệu là tài sản quý giá nhất của công ty, nó có giá trị hơn tất
cả các tài sản khác cộng lại.”
Một thương hiệu mạnh có thể đạt được những giá trị:
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 6
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
• Sự khác biệt trong cạnh tranh.
• Những mức giá hớt váng cao mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng them khát.
• Sản lượng bán rất cao.
• Giảm các chi phí sản xuất và dễ dàng đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô.
• Đảm bảo cho cầu ổn định và tăng trưởng.
Thương hiệu là một loại sở hữu trí tuệ, khác với sở hữu hàng hóa. Khi xem xét
và đánh giá hàng hóa, khách hàng quan tâm đến giá cả, chất lượng, thời gian giao
hàng. Nhưng chúng không chứa đựng nhận thức. Để thành công, ngoài việc khách
hàng đánh giá có giá cả phù hợp, chất lượng cao và giao hàng đúng hẹn, cảm giác
phù hợp luôn là yếu tố không thể thiếu được khi khách hàng chọn mua.
Giá trị tài sản được thể hiện qua các yếu tố sau:
Hình
GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU
Sự trung
thành với
thương hiệu
Nhận biết về
thương hiệu
Chất lượng
cảm nhận
được
Các liên kết
thương hiệu
Các tài sản
độc quyền
sở hữu
thương hiệu
khác
• Giảm chi phí Marketing
• Tạo đòn bẩy thương mại
• Thu hút khách mới
• Tăng cường nhận thức
• Tăng khả năng cạnh
tranh.
• Tăng cường các liên kết
với thương hiệu
• Tạo ra sự quen thuộc.
• Dấu hiệu về sự cam kết
• Tăng sự quan tâm tới
thương hiệu
• Lý do mua hàng
• Sự khác biệt/định vị
• Giá cả
• Lợi ích của kênh phân
phối
• Sự mở rộng thương hiệu
• Hỗ trợ xử lý và truy cập
thông tin
• Lý do mua hàng
• Tạo ra thái độ, cảm giác
thích hợp
• Các hoạt động mở
Lợi thế cạnh tranh
Cung cấp gía trị cho khách
hàng qua việc nâng cao:
• Hiểu biết và khả năng xử
lý thông tin.
• Tạo được long tin của
khách hàng.
Cung cấp các giá trị cho
doanh nghiệp thông qua:
• Nâng cao năng lực và hiệu
quả các chương trình
Marketing.
• Sự trung thành với nhãn
hiệu.
• Giá cả và lợi nhuận cận
biên
• Mở rộng thương hiệu
• Đòn bẩy thương mại
• Lợi ích cạnh tranh
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 7
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
THƯƠNG HIỆU HÒA BÌNH
2.1. Tổng quan về ngành xây dựng và kinh doanh địa ốc Việt Nam.
2.1.1. Quy mô thị trường xây dựng và kinh doanh địa ốc.
Theo thông tin công bố chính thức của chính phủ, do khủng hoảng kinh tế,
năm 2008 kinh tế VN tăng trưởng chỉ đạt 6,23% trong đó khu vực công nghiệp và
xây dựng tăng 6,33%, khu vực dịch vụ tăng 7,2%. Tổng vốn hoá thị trường chứng
khoán chỉ đạt khoảng 19% GDP thấp hơn cả mức cuối năm 2006 (22,6% GDP).
Vốn cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hơn 64 tỷ USD, tuy nhiên thực sự
giải ngân thì còn rất hạn chế. Vốn cam kết ODA của các nhà tài trợ trong năm 2008
đạt tới 5,43 tỷ USD. Đầu tư gián tiếp nước ngoài có dấu hiệu tăng trở lại, với 46
quỹ ĐTNN chuyên đầu tư vào Việt Nam, chủ yếu nhằm vào thị trường BĐS và tài
chính ngân hàng. Tỷ trọng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đang tăng dần và hiện
chiếm trên 20% thị phần TTCK Việt Nam…. Theo số liệu thống kê từ Vụ Kiến trúc
Quy hoạch Bộ Xây Dựng, tỉ lệ đô thị hoá của Việt Nam tăng rất nhanh. Diện tích
đất đô thị sẽ tăng gấp 4 lần trong 12 năm nữa, tỉ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào
năm 2020 sẽ đạt khoảng 40% (460.000 ha). Thị trường xây dựng và địa ốc trong
những năm kế tiếp sẽ có tiềm năng rất lớn bao gồm các khu công nghiệp, khu dân
cư, trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng….
a. Về nhà ở.
Trong năm 2008 đầy khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thị trường địa
ốc Việt Nam cũng chịu nhiều tác động. Giá nhà, giá đất và giá cho thuê đã giảm
nhiều, một số điểm nóng trước đây đã giảm trung bình từ 30% đến 60% so với cuối
năm 2007. Phân khúc thị trường nhà ở cao cấp trở nên khó tiêu thụ do tính thanh
khoản thấp lại, các ngân hàng quản lý tính dụng chặt chẽ hơn, và xu hướng đầu tư
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 8
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
thứ cấp cũng giảm. Các nhà đầu tư bất động sản bắt đầu triển khai các dự án căn hộ
với phân khúc trung bình thấp, vì thị trường có khả năng tiêu thụ cao hơn, đúng với
nhu cầu hiện thực về nhà ở. Đây cũng là định hướng mà từ đầu năm 2007 Hòa Bình
đã xác định.
Năm 2009, Thị trường bất động sản tại TP HCM khá bền vững trong khủng
hoảng kinh tế. Trong quý 3/2009, có hơn chục dự án nhà ở mới được khởi công.
Nhu cầu về nhà ở vẫn đang trong thời kỳ tăng trưởng, bất chấp suy thoái kinh tế.
Nhu cầu về nhà ở vẫn rất lớn. Là trung tâm thương mại kinh tế lớn của cả nước nên
thành phố đã thu hút lượng dân cư rất lớn ở các tỉnh, thành khác về sinh sống và
làm việc. Theo số liệu thống kê tháng 4/2009, tỉ lệ tăng dân số tại Thành phố Hồ
Chí Minh là 3,5% hàng năm thì nhu cầu nhà ở tại Tp.HCM vẫn tiếp tục tăng cao
trong tương lai.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS Thành phố Hồ Chí Minh, nhận
định: Năm 2009, dòng sản phẩm BĐS có giá bình dân “lên ngôi”. Trong năm 2010
thị trường BĐS sẽ phục hồi tốt, thể hiện qua việc các dự án căn hộ cao cấp đang có
đông khách hàng đăng ký mua.
b. Về văn phòng.
Thị trường căn hộ cho thuê năm 2008 được đánh dấu bằng sự gia tăng đột biến
về nguồn cung trong nửa đầu năm 2008. Tỷ lệ phòng trống trung bình cuối năm
2008 là khoảng 20%, so với mức 5% cuối năm 2007. Giá văn phòng cho thuê cũng
giảm đáng kể bởi lượng cung lơn hơn lượng cầu. Trong khi đó, tình hình khủng
hoảng làm cho việc đầu tư mở rộng văn phòng tại Việt Nam của các công ty nước
ngoài sụt giảm đáng kể. Các cao ốc hạng A trung bình giảm đến 30%, và các cao ốc
hạng B và C giảm đáng kể. Tỉ lệ cho thuê được cũng giảm hơn . Tuy nhiên theo
đánh giá dài hạn thì thị trường văn phòng cho thuê sẽ hồi phục sớm sau cơn khủng
hoảng vì Việt Nam chịu nhiều tác động từ khách thuê văn phòng nước ngoài.
Nhận định khách quan về thị trường bất động sản, trong đó phân khúc các dự
án bất động sản phục vụ nhu cầu thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn CB Richard Ellis Việt Nam cho rằng trong
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 9
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
quý IV/2009, tuy đã có thêm hơn 40.000m2 diện tích sàn phục vụ nhu cầu thương
mại tại khu vực trung tâm nhưng phần lớn đã được lấp đầy nhanh chóng bởi các cửa
hàng buôn bán.
c. Về khu công nghiệp.
Mặc dù năm 2008 nền kinh tế gặp không ít khó khăn, dòng vốn đầu tư nước
ngoài chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, nhưng các nhà
đầu tư nước ngoài vẫn tin tưởng vào triển vọng phát triển của Việt Nam. Điều này
được chứng minh năm 2008 là năm thứ 3 liên tiếp thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
d. Khách sạn và khu nghỉ dưỡng.
Mặc dù thị trường bất động sản Việt Nam 2008 kém thanh khoản, nhưng
mảng bất động sản du lịch vẫn được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan
tâm. Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm đến du lịch mới me thu hút du khách
quốc tế. Nhu cầu về các khách sạn cao cấp cũng tăng rất nhanh. Bình quân giá thuê
phòng khách sạn 4 đến 5 sao tại thành phố Hồ Chí Minh là gần ngang bằng với
Singapre và Hong Kong. Đặc biệt, với tỷ lệ lãi ròng trên tổng doanh thu tại các
khách sạn cao cấp ở Việt Nam hiện ở mức khá lớn (khoảng trên 20% đến 35%). Do
đó, đầu tư trong lĩnh vực bất động sản du lịch ở Việt Nam đang được ví như một
chiếc bánh mang lại lợi nhuận béo bở.
e. Kết luận.
Toàn cảnh thị trường nhà đất năm 2008 bị suy giảm mạnh. Nhiều dự án với đi
60-70% giá trị so với cuối năm 2007 và không hề có dấu hiệu khởi sắc. Các chuyên
gia dự báo đây chỉ là cột mốc đầu của giai đoạn thoái trào. 12 tháng qua, thị trường
nhà đất phải đương đầu với hàng loạt sự cố ngoài ý muốn. Hiện tượng này được các
chuyên gia lý giải rằng, chính sách kinh tế vĩ mô đã tác động mạnh đến giới đầu tư
kinh doanh nhà đất. Thêm vào đó, những giá trị ảo khiến cho khối bong bóng bất
động sản căng phồng lên trong năm 2007 bị chọc thủng và xì hơi dần. Song, chính
vì giao dịch ảm đạm, trầm lắng cùng mạch giảm giá với kỷ lục 60-70%, tỷ lệ chưa
từng có trước đó, nhà đầu tư và khách hàng bắt đầu tìm kiếm cơ hội “lướt sóng” nhà
đất vào cuối 2008 và đầu 2009.
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 10
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
Năm 2008 tuy mở ra chặng đường gian truân cho bất động sản nhưng vẫn còn
bỏ ngỏ thị trường nhà ở vừa túi tiền cho người có thu nhập ổn định. Bằng chứng là
dự án đánh vào phân khúc thị trường này như dòng sản phẩm Ehome đã thu được
kết quả khả quan, sức tiêu thụ mạnh và được khách hàng hưởng ứng. Ngoài ra nhà
cá thể giá trên dười một tỷ đồng vẫn giao dịch ổn định. Tuy nhiên, trở ngại chính là
thị trường đang thiếu dòng sản phẩm giá hợp lý này. Quan điểm của các chuyên gia
kinh tế, năm 2009 thị trường nhà đất hình thành mặt bằng giá mới “mềm” hơn để tự
kích cầu và cứu chính mình, có nghĩa là các chủ đầu tư sẽ biết đầu tư hợp lý, và tỉ lệ
lợi nhuận sẽ phù hợp hơn và chấp nhận được.
2.1.2. Một số doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh địa ốc.
Hiện nay trên địa bàn TPHCM có rất nhiều công ty xây dựng có quy mô khác
nhau như:Hòa Bình,Vinaconex,Cotec…Sau đây xin điểm qua một số doanh nghiệp
xây dụng tiêu biểu của TPHCM.
a. Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam.
Được thành lập ngày 27/09/1988, Tổng Công ty XNK Xây dựng Việt Nam
(VINACONEX), tiền thân là Công ty dịch vụ và xây dựng nước ngoài, có nhiệm vụ
quản lý cán bộ, công nhân ngành xây dựng làm việc ở các nước Bungaria, Nga,
Tiệp Khắc, Liên Xô cũ, Iraq.
Trải qua 18 năm phát triển và trưởng thành, đến nay VINACONEX đã trở
thành một Tổng Công ty đa doanh hàng đầu trong ngành xây dựng, với chức năng
chính là: Kinh doanh Bất động sản, Xây lắp, Tư vấn đầu tư - thiết kế - khảo sát quy
hoạch, kinh doanh xuât nhập khẩu thiết bị, vật tư phục vụ ngành xây dựng và các
ngành kinh tế khác, sản xuất công nghiệp và vật liệu xây dựng, xuất khẩu chuyên
gia và lao động ra nước ngoài, và đặc biệt là đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng
hàng đầu nhằm chuyển đổi cơ cấu và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, phấn
đấu trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh của đất nước.
b. Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Xây dựng.
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 11
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Xây dựng (Invesco) tiền thân là Công ty
Đầu tư và Phát triển Xây dựng (Invesco) - Doanh nghiệp nhà nước hạng I, trực
thuộc Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội - Bộ Xây dựng.
Công ty đã tạo được uy tín nhất định đối với khách hàng trong các lĩnh vực
hoạt động như: : tư vấn đầu tư, thiết kế xây dựng; thi công các công trình xây dựng
dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị,
khu công nghiệp; đầu tư và kinh doanh địa ốc.
Invesco đã xây dựng và đào tạo được một đội ngũ chuyên viên, công nhân kỹ
thuật có tri thức và chuyên môn kỹ thuật cao luôn khao khát tìm tòi, học hỏi những
tiến bộ về khoa học kỹ thuật xây dựng. Đồng thời, Invesco còn tăng cường công tác
đầu tư các phương tiện máy móc, trang thiết bị chuyên ngành để có thể đáp ứng tốt
nhất mọi yêu cầu của các nhà đầu tư trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ
cao. Với hàng trăm công trình có mô lớn và chất lượng cao thực hiện trong phạm vi
cả nước, Invesco đã được nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3 và
được trao tặng nhiều Huy chương vàng chất lượng cao ngành Xây dựng cho các
công trình lớn tiêu biểu.
c. Tập Đoàn Cotec(Cotec Group).
Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng COTEC (gọt tắt là COTECiN) là doanh
nghiệp được cổ phần hoá từ Nhà máy Bê tông COTEC và Xí nghiệp xây lắp
COTEC số 1 của Công ty Kỹ thuật Xây dựng và Vật liệu Xây dựng COTEC thuộc
Tổng công ty Vật liệu Xây dựng số 1 (FiCO) – Bộ xây dựng.
Đến năm 2002, do nhu cầu thị trường gia tăng, Công ty quyết định đầu tư mới
trạm trộn bê tông Leibherr-Đức,tại Cảng Bình Thung, Quận 7 và di dời toàn bộ văn
phòng Xí nghiệp Bê tông Tân Thuận về trụ sở hiện nay và đổi tên thành Nhà máy
Bê tông COTEC.
Đến cuối năm 2003, được sự cho phép của Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng
số 1, Công ty Kỹ thuật Xây dựng và Vật liệu Xây dựng COTEC đã hợp tác kinh
doanh với Công ty TNHH Bê tông hỗn hợp VN (Supermix) khai thác sử dụng toàn
bộ Nhà máy.
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 12
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
Ngày 24/05/2004, Hội đồng quản trị Tổng công ty Vật liệu Xây dựng số 1 đã
sáp nhập Xí nghiệp xây lắp COTEC số 1 vào Nhà máy Bê tông COTEC, lấy tên là
Nhà máy Bê tông COTEC và được chuyển sang hoạt động dưới hình thức Công ty
cổ phần.
Ngày đầu năm mới (1/1/2007), Cotec chính thức trở thành tập đoàn Cotec
(Cotec Group) gồm 11 công ty thành viên: CotecCement, CotecAnpha, CotecLand,
CotecBình Dương, Cotec Quảng Nam, Cotec T&T, Cotec C&T, Cotecin,
CotecStar, CotecMedia và CotecStock. Hiện công ty mẹ - Cotec Group đang nắm
giữ 51-75% vốn điều lệ của các công ty con.
Tháng 4/2007, Cotec Group tăng vốn điều lệ từ 70 tỷ lên 350 tỷ và đến cuối
năm 2007 tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng bằng cách phát hành cho cổ đông chiến
lược 20%, phát hành ra bên ngoài 5-10% tổng số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành.
Tháng 1/2008, Cotec Group chính thức niêm yết và giao dịch cổ phiếu tại trung tâm
giao dịch chứng khoán.
Lĩnh vực hoạt động:
Dịch vụ xây dựng công trình :Xây dựng, lắp− đặt, sửa chữa công trình dân
dụng, công nghiệp; kỹ thuật hạ tầng khu đô thị và khu công nghiệp; công trình giao
thông, thuỷ lợi. Xây dựng công trình cấp, thoát nước và xử lý môi trường; đường
dây, trạm biến áp và thiết bị công nghiệp; gia công lắp đặt hệ thống cơ-điện-lạnh.
Đầu tư bất động sản :Trang trí− nội-ngoại thất: lập dự án đầu tư. Tư vấn đấu
thầu. Thiết kế kiến trúc công trình dân dụng và công nghiệp. Thiết kế tổng mặt bằng
xây dựng. Thiết kế nội-ngoại thất công trình. Thiết kế kết cấu công trình dân dụng
và công nghiệp. Lập tổng dự toán công trình. Sản xuất, mua bán trang thiết bị, dụng
cụ trường học, bệnh viện, văn phòng, thể thao (không sản xuất vật liệu xây dựng,
chế biến gỗ, gia công cơ khí, tái chế phế thải, xi mạ điện và súng đạn thể thao-vũ
khí thô sơ tại trụ sở). Chế biến, mua bán sản phẩm gỗ (không chế biến tại trụ sở).
Sản xuất vật liệu:Sản xuất kinh doanh thiết bị xây dựng, kết cấu thép tiền chế;
khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng (không sản xuất tại trụ sở). Mua
bán vật tư, máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, dây chuyền công nghệ thuộc lĩnh
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 13
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
vực xây dựng và vật liệu xây dựng, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Kinh doanh dịch
vụ du lịch lữ hành nội địa. Kinh doanh lưu trú du lịch: khách sạn, khu nghỉ dưỡng
(không kinh doanh tại trụ sở).
Dịch vụ tư vấn thiết kế :Tư vấn đầu− tư (trừ tư vấn tài chính), quản lý dự án
các công trình dân dụng-công nghiệp, các công trình kỹ thuật hạ tầng khu đô thị và
khu công nghiệp. Kinh doanh nhà, dịch vụ môi giới kinh doanh bất động sản, tư vấn
về bất động sản (không kinh doanh dịch vụ pháp lý).
d. Công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình.
Tiền thân của Hòa Bình là Văn phòng xây dựng Hòa Bình thuộc Công ty Xây
dựng Dân dụng & Công nghiệp. Từ năm 1987 đến nay, song song với công cuộc
đổi mới của đất Nước, Hòa Bình đã không ngừng phát triển.
Cuối năm 2000,công ty chính thức chuyển đổi sở hữu thành công ty cổ phần
với tên gọi Công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh địa ốc Hòa Bình
với vốn điều
lệ là 56.399.900.000 VNĐ. Các ngành nghề kinh doanh chính của Công ty:
• Xây dựng dân dụng, công nghiệp, cầu đường, công trình giao thông, hệ
thống cấp thoát nước.
• San lấp mặt bằng.
• Kinh doanh nhà.
• Tư vấn xây dựng (trừ thiết kế công trình).
• Sản xuất, mua bán vật liệu xây dựng, hàng trang trí nội thất.
• Dịch vụ sửa chữa nhà.
• Trang trí nội thất.
• Trồng rừng cao su, xà cừ, tràm và bạch đàn.
• Khai thác và sơ chế gỗ. (Không hoạt động tại TP. Hồ Chí Minh).
• Kinh doanh khu du lịch, khách sạn (không hoạt động tại trụ sở).
• Cho thuê nhà phục vụ các mục đích kinh doanh (kiốt, trung tâm thương mại).
• Thiết kế kết cấu công trình dân dụng và công nghiệp.
• Thiết kế kiến trúc công trình dân dụng và công nghiệp.
TIỂU LUẬN MÔN MARKETING 14
GROUP: THE BOYS OF MARKETING
Hòa Bình không che giấu tham vọng phát triển thành một tập đoàn hoạt động
hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Đó là những lĩnh vực liên quan đến xây dựng và địa
ốc. Những lĩnh vực đó có nhu cầu phối hợp, liên kết một cách hữu cơ, có khả năng
hỗ trợ bổ sung cho nhau để mang lại hiệu quả đầu tư, hiệu quả phục vụ cao nhất cho
xã hội. Đặc biệt chú trọng những lĩnh vực, những sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia
tăng cao mà Việt Nam đồng thời Hòa Bình cũng có lợi thế cạnh tranh trên thị
trường toàn cầu.
Với quan điểm “Xem nhẹ chất lượng là bán rẻ uy tín”, chất lượng sản phẩm
luôn là điều quan tâm hàng đầu của công ty. Hòa Bình đã áp dụng quy trình quản lý
chất lượng chất lượng ISO 9001:2000 vào các lĩnh vực hoạt động của mình nhằm
cung cấp một cách ổn định sản phẩm thoả mãn các yêu cầu của khách hàng, đồng
thời phải liên tục cải tiến hệ thống quản lý của mình để đáp ứng ngày càng cao nhu
cầu của khách hàng.
Đến nay công ty xây dựng Hòa Bình đã tạo được sự tin tưởng nơi khách hàng
với hàng loạt công trình lớn như:
Công trình mở rộng nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất,
Nam Hải Resort,Văn phòng Công ty Thép Việt,chung cư Saigon View, khu chung
cư Mỹ Viên, chung cư Green Hills, chung cư Sao Mai,chung cư cao cấp Cantavil,
khu biệt thự Mỹ Thái, khu biệt thự Mỹ Gia, công trình cao ốc cao cấp Horizon ở
Quận 1, phần kết cấu cao ốc The Manor giai đoạn 2; hợp tác dự thầu công trình
Asiana Plaza với Seo Yong Construction Ltd; Hợp tác xây dựng khu chung cư Bình
Chiểu với công ty Cổ Phần Phát triển nhà Thủ Đức)…
e. Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Chương Dương.
Công ty cổ phần Đầu tư và Xây lắp Chương Dương (Chương Dương ACIC)
được thành lập từ việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là Công ty Xây Lắp.
Chương Dương ACIC tiền thân là hãng E iffel Asia – một chi nhánh của hãng Eiffel
(Pháp) tại Đông Dương. Từ năm 1977, Eiffel Asia được chuyển giao cho Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, công ty đã từng có những tên gọi là: Xí
nghiệp Lắp máy; Công ty Xây lắp và ngày nay là Công ty Cổ phần Đầu tư & Xây
lắp Chương Dương (Chương Dương ACIC).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét