Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thực phẩm tại xí nghiệp Khai thác và Cung ứng thực phẩm tổng hợp

thiết bị máy móc, công nghệ đã tác động tới một loạt các hoạt động khác, các
lĩnh vực kinh doanh khác nh ngời chăn nuôi, trồng trọt, yếu tố con ngời, yếu tố
văn hoá xã hội. Tức nó đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới sự phát triển của
các ngành khác hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tiêu thụ sản phẩm nói chung và tiêu thụ thực phẩm nói riêng không trực
tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà nó chỉ phục vụ quá trình tiếp tục sản
xuất trong khâu lu thông. Kinh doanh thực phẩm có tác dụng nhiều mặt tới lĩnh
vực sản xuất và tiêu dùng xã hội, nó cung cấp những sản phẩm là lơng thực,
thực phẩm là những hàng hóa thiết yếu tới toàn bộ con ngời một cách đầy đủ,
kịp thời đồng bộ, đúng số lợng, chất lợng một cách thuận lợi, với quy mô ngày
càng mở rộng. Đối với các lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp thơng mại, đại
lý bán buôn bán lẻ có thể nhận đợc các sản phẩm, vật t kỹ thuật đầu vào một
cách kịp thời, đồng bộ, đúng số lợng, chất lợng. Đối với lĩnh vực tiêu dùng, các
cá nhân có thể dễ dàng thoả mãn nhu cầu về hàng thực phẩm trên thị trờng một
cách kịp thời và văn minh, nhờ hàng loạt các cửa hang, quầy hàng, siêu thị
Cung cấp cho mọi ngời, mọi gia đình và các nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp
dân c, lứa tuổi, nghề nghiệp. Nó có tác dụng nữa là kích thích nhu cầu, gợi mở
nhu cầu, hớng ngời tiêu dùng tới những hàng thực phẩm có chất lợng cao, thuận
tiện trong sử dụng, đồng thời đa dạng về sản phẩm với phong cách phục vụ đa
dạng, văn minh, hiện đại.
1.2.2. Vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với sự phát triển của doanh
nghiệp
Kinh doanh thực phẩm từ khâu mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất chế
biến và khâu tiêu thụ sản phẩm, khâu nào cũng quan trọng để tăng hiệu quả của
hoạt động kinh doanh nếu một khâu nào đó hoạt động kém, chậm tiến độ sẽ ảnh
hởng tới khâu khác. Nhng phải nói rằng trong kinh doanh nói chung và kinh
doanh thực phẩm nói riêng thì tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng, vì nó
ảnh hởng trực tiếp tới các khâu khác, tới sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Để tiếp tục, đẩy mạnh kinh doanh trên thị trờng thì doanh nghiệp hoạt
động trong ngành thực phẩm luôn tìm cách tái sản xuất, mở rộng thị trờng sao
cho có nhiều sản phẩm đáp ứng đợc tối đa nhu cầu của khách hàng. Thì điều
kiện cần và đủ là doanh nghiệp phải tiêu thụ đợc sản phẩm sao cho thu đợc một
lợng tiền bảo đảm bù đắp chi phí bỏ ra, có lợi nhuận từ đó doanh nghiệp có đủ
nguồn lực để tiếp tục tái sản xuất mở rộng cho chu kỳ sản xuất sau, còn nếu
doanh nghiệp không tiêu thụ đợc thì sẽ gây ứ đọng nguồn vốn, tăng các chi phí
kho, bảo quản gây đình trệ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đối với ngành thực phẩm tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong
việc duy trì và phát triển mở rộng thị trờng. Tiêu thụ đợc càng nhiều sản phẩm
tức là sản phẩm về thực phẩm đã đợc thị trờng chấp nhận, và cầng có nhiều
khách hàng biết tới sản phẩm, biết tới thơng hiệu, và biết tới doanh nghiệp kinh
doanh thực phẩm đó. Trong bất kỳ một hình thức kinh doanh nào cũng vậy thì
mục tiêu duy trì và mở rộng thị trờng là một mục tiêu rất quan trọng để doanh
nghiệp có thể duy trì và phát triển. Doanh nghiệp đó phải đề ra các biện pháp để
kích thích khối lợng tiêu thụ, tăng doanh số bán không chỉ ở thị trờng hiện tại
mà cả ở thị trờng tiềm năng. Khối lợng hàng bán ra ngày một lớn hơn thì doanh
nghiệp có thêm điều kiện để mở rộng và phát triển kinh doanh, từ đó phát hiện
thêm nhu cầu và cho ra sản phẩm thực phẩm mới.
Tiêu thụ thực phẩm trong doanh nghiệp còn góp phần nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, tốc độ
quay của vốn, mức chi phí trên một đồng vốn. Hiệu quả kinh doanh là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh
ở doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất, với chi phí nhỏ nhất. Nó không chỉ
là thớc đo trình độ tổ chức kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh
nghiệp, tiêu thụ thực phẩm tác động trực tiếp tới quá trình tổ chức quản lý, thúc
đẩy việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lợng thực phẩm, hạ
giá thành sản xuất của doanh nghiệp trong ngành thực phẩm. Tổ chức tốt hoạt
động tiêu thụ góp phần giảm các chi phí lu thông, giảm thời gian dự trữ thành
phẩm, nguyên liệu, tăng nhanh vòng quay của vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất
kinh doanh từ đó giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và đem lại lợi nhuận cao.
Tiêu thụ thực phẩm đem lại chỗ đứng và độ an toàn cao hơn cho doanh
nghiệp kinh doanh thực phẩm trong môi trờng cạnh tranh khắc nghiệt hiện nay
với các doanh nghiệp trong ngành và ngoài ngành, đây cũng chính là một mục
tiêu mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng muốn hớng tới. Vị thế đợc đánh giá
qua doanh số bán, số lợng hàng hoá bán ra, phạm vi thị trờng mà nó chiếm lĩnh.
Mỗi doanh nghiệp luôn luôn phảỉ chú ý tới uy tín, tới niềm tin của khách hàng
vào sản phẩm của doanh nghiệp, tới thơng hiệu của doanh nghiệp, để từ đó tạo
đà cho việc mở rộng thị trờng tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh.
Tiêu thụ thực phẩm có vai trò gắn kết ngời sản xuất, chế biến thực phẩm
đối với ngời tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp mình. Nó giúp cho các nhà
sản xuất thực phẩm hiểu rõ thêm về kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh
của mình thông qua sự phản ánh của ngời tiêu dùng thực phẩm, qua đó cũng
nắm bắt đợc nhu cầu mới của họ. Đồng thời qua hoạt động tiêu thụ còn giúp
cho các doanh nghiệp có thể kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh của các
đơn vị, cửa hàng, đại lý, chi nhánh Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ có những
biện pháp hữu hiệu đối với từng đoạn thị trờng để có thể khai thác đợc tối đa
nhu cầu của khách hàng.
Đối với hoạt động đầu vào của doanh nghiệp là giai đoạn đầu của quá
trình sản xuất kinh doanh, nếu không có nó thì không có sản xuât dẫn tới không
có sản phẩm để tiêu thụ. Nếu giai đoạn này đợc tổ chức tốt từ các khâu nghiên
cứu nguồn hàng, tổ chức thu mua, vận chuyển, bảo quản, sơ chế sẽ giúp cho
hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp đợc diễn ra liên tục, nhịp nhàng không bị
gián đoạn. Luôn có sản phẩm để đáp ứng tốt nhất đầy đủ nhất kể cả những lúc
khối lợng mua hàng thực phẩm đẩy tới mức cao nhất trong chu kỳ kinh doanh
( vào gần tết Nguyên Đán hàng năm ). Từ đó nâng cao chất lợng của sản phẩm,
hạ giá thành trên một đơn vị sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực thực phẩm thắng thế trong cạnh tranh kể cả với cả những sản phẩm
thay thế, lợi nhuận ngày một tăng.
2. Nội dung của kinh doanh thực phẩm
2.1. Hoạt động mua sắm vật t cho sản xuất (tạo nguồn)
Để hoạt động sản xuất và tiêu thụ đợc diễn ra liên tục không bị gián đoạn
đòi hỏi phải bảo đảm thờng xuyên, liên tục nguyên nhiên vật liệu và máy móc
thiết bị Chỉ có thể đảm bảo đủ số l ợng, đúng mặt hàng và chất lợng cần thiết
với thời gian quy định thì sản xuất mới có thể đợc tiến hành bình thờng và sản
xuất kinh doanh mới có hiệu quả. Vật t (nguyên, nhiên vật liệu ) cho sản xuất
ở các doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần nâng cao trình độ
công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nớc.
Nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm nh: các sản phẩm nông sản tơi,
khô (gạo, ớt, măng, tỏi, đậu nành, mía, da ), các thiết bị máy móc, vốn, cơ sở
hạ tầng, điện, nớc.
Đảm bảo tốt vật t cho sản xuất là đáp ứng các yêu cầu về số lợng, chất l-
ợng, đúng thời gian, chủng loại và đồng bộ. Điều này ảnh hởng tới năng suất
của doanh nghiệp, đến chất lợng của sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết
kiệm vật t, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng nội dung của công tác đầu vào cho sản xuất
kinh doanh nói chung và cho lĩnh vực thực phẩm nói riêng (Hậu cần vật t cho
sản xuất) bao gồm từ khâu nghiên cứu thị trờng, xác định nguồn vật t, lập kế
hoạch mua sắm vật t, tổ chức mua sắm, tổ chức tiếp nhận, bảo quản và cấp phát
đến việc quản lý sử dụng và quyết toán.

Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức mua sắm và quản lý vật t
2.1.1. Xác định nhu cầu
Mỗi loại vật t đều có những đặc tính cơ, lý, hoá học và trạng thái khác
nhau, có nhu cầu tiêu dùng cho các đối tợng khác nhau. Doanh nghiệp thực
phẩm phải tính toán, dựa vào các chỉ tiêu để xác định đợc nhu cầu cần tiêu dùng
trong kỳ kinh doanh, số lợng nguyên nhiên, vật liệu loại gì chất lợng ra sao để
sản xuất thực phẩm. Đồng thời doanh nghiệp phải nghiên cứu xác định khả
năng của nguồn hàng, để có thể khai thác đặt hàng và thu mua đáp ứng cho nhu
Phân tích
đánh giá q.tr
qlý
Xác định
nhu cầu
Xây dựng kế
hoạch y.cầu
vật tư
XĐ các p.p
đảm bảo vật tư
Qlý dự trữ và
bảo quản
Cấp phát vật
tư nội bộ
Quyết toán
vật tư
T.chức qlý vật
tư nội bộ
Lựa chọn
nguời cung
ứng
Thương lư
ợng và đặt
hàng
Theo dõi đặt
hàng và tiếp
nhận vật tư
Lập và t.chức
t.hiện KH
mua sắm vtư
cầu của sản xuất, nguồn hàng có thể mua lại của các nhà kinh doanh khác hay
tới tận nơi trồng trọt chăn nuôi để thu mua nguyên vật liệu.
Nhu cầu vật t cho sản xuất đợc xác định bằng 4 phơng pháp:
a. Phơng pháp trực tiếp ( dựa vào mức tiêu dùng vật t và khối lợng sản phẩm
sản xuất trong kỳ)
- Tính theo mức sản phẩm:

SP
n
SPsx
mQN .
1

=
N
sx
: Nhu cầu vật t để sản xuất sản phẩm trong kỳ
Q
SP
: Số lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
m
SP
: Mức sử dụng vật t cho đơn vị sản phẩm
n: Số sản phẩm sản xuất (khối lợng công việc)
- Tính theo mức chi tiết sản phẩm
ct
n
ctct
mQN .
1

=
N
ct
: Nhu cầu vật t để sản xuất các chi tiết sản phẩm trong kỳ
Q
ct
: Số lợng chi tiết sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
m
ct
: Mức sử dụng vật t cho một đơn vị chi tiết sản phẩm
n: Số chi tiết sản xuất
- Tính theo mức của sản xuất tơng tự
N
sx
= Q
sp
.m
tt
. K
đ
N
sx
: Nhu cầu vật t tiêu dùng để sản xuất sản phẩm trong kỳ
Q
sp
: Số lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
m
tt
: Mức tiêu dùng vật t của sản phẩm tơng tự
K
đ
: hệ số điều chỉnh giữa 2 loại sản phẩm
- Tính theo mức của sản phẩm đại diện
N
sx
= Q
sp
. m
đd
N
sx
: Nhu cầu vật t tiêu dùng để sản xuất sản phẩm trong kỳ
Q
sp
: Số lợng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
m
đd
: mức sử dụng vật t của sản phẩm đại diện










sp
spsp
bq
K
Km
m
.
(Với K
sp
: tỷ trọng từng cỡ loại trong tổng khối lợng sản xuất, %)
b. Phơng pháp tính dựa trên cơ sở số liệu về thành phần chế tạo sản phẩm
Nhiều loại sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, sản phẩm
đúc, sản phẩm bê tông đ ợc sản xuất từ nhiều loại nguyên, vật liệu khác nhau,
thì nhu cầu đợc xác định theo 3 bớc.
Bớc 1: Xác định nhu cầu vật t để thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
(NVT).
NVT =

n
HQ
1
.
Q: Khối lợng sản phẩm sản xuất theo kế hoạch tiêu thụ trong kỳ
H: Trọng lợng tinh của sản phẩm (kg, tấn, m
2
)
n: Số lợng sản phẩm sản xuất.
Bớc 2: Xác định nhu cầu vật t cần thiết cho sản xuất có tính tổn thất trong
quá trình sử dụng.
Kt
N
N
VT
sx
=
(Kt: hệ số thu thành phẩm)
Bớc 3: Xác định nhu cầu về từng loại vật t hàng hoá
Nx = Nsx.h
Nx: Nhu cầu của từng loại vật t, hàng hoá
h: Tỷ trọng của từng loại so với tổng số
c. Phơng pháp tính nhu cầu dựa trên cơ sở thời hạn sử dụng
t
P
N
vt
sx
=
Pvt: nhu cầu hàng hoá cần có cho sử dụng
t: Thời hạn sử dụng
d. Phơng pháp tính theo hệ số biến động
N
sx
= N
bc
. T
sx
. H
tk
N
bc
: Số lợng vật t sử dụng trong năm báo cáo
T
sx
: Nhịp độ phát triển sản xuất kỳ kế hoạch
H
tk
: hệ số tiết kiệm vật t năm kế hoạch so với năm báo cáo
2.1.2. Nghiên cứu thị trờng đầu vào
Đây là quá trình nghiên cứu, phân tích các thông tin về thị trờng đầu vào
nhằm tìm kiếm thị trờng đáp ứng tốt nhất nhu cầu vật t cho sản xuất của doanh
nghiệp. Vì thị trờng vật t là thị trờng yếu tố đầu vào của sản xuất nên mục tiêu
cơ bản nhất của nghiên cứu thị trờng vật t là phải trả lời đợc các câu hỏi: Trên
cơ sở phơng án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nên sử dụng loại vật t
nào sẽ đem lại hiệu quả cao nhất? Chất lợng, số lợng loại vật t đó nh thế nào?
Mua sắm vật t ở đâu? Khi nào? Mức giá vật t trên thị trờng là bao nhiêu? Phơng
thức mua bán và giao nhận nh thế nào?
Để nghiên cứu thị trờng thờng phải trải qua 3 bớc cơ bản: thu thập thông
tin, xử lý thông tin và ra quyết định. Cùng với việc nghiên cứu thị trờng thì công
tác dự báo thị trờng vật t đối với doanh nghiệp cũng có một vị trí quan trọng.
Việc nghiên cứu và dự báo thị trờng phải tiến hành đồng thời với cung, cầu, giá
cả từ đó doanh nghiệp sẽ xây dựng đ ợc chiến lợc kinh doanh phù hợp.
2.1.3. Lập kế hoạch mua sắm vật t ở doanh nghiệp
Kế hoạch mua sắm vật t ( đầu vào cho sản xuất kinh doanh thực phẩm) là
một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất-kỹ thuật-tài chính của doanh
nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với các kế hoạch khác nh kế hoạch tiêu thụ,
kế hoạch sản xuất, kế hoạch xây dựng cơ bản. Kế hoạch mua sắm vật t của
doanh nghiệp là các bản tính toán nhu cầu cho sản xuât hàng thực phẩm của
doanh nghiệp và nguồn hàng rất phức tạp nhng có tính cụ thể và nghiệp vụ cao.
Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch là bảo đảm vật t tốt nhất cho hoạt động sản
xuất kinh doanh hàng thực phẩm, nó phản ánh đợc toàn bộ nhu cầu vật t của
doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch nh nhu cầu vật t cho sản xuất, cho sửa chữa, dự
trữ, cho xây dựng cơ bản Đồng thời nó còn phản ánh đ ợc các nguồn vật t và
cách tạo nguồn của doanh nghiệp gồm nguồn từ hàng tồn kho đầu kỳ, nguồn
động viên tiềm lực nội bộ doanh nghiệp, nguồn mua trên thị trờng.
2.1.4. Tổ chức mua sắm vật t
Trên cơ sở của kế hoạch mua sắm vật t và kết quả nghiên cứu thị trờng
doanh nghiệp lên đơn hàng vật t và tổ chức thực hiện việc đảm bảo vật t cho sản
xuất. Lên đơn hàng là quá trình cụ thể hoá nhu cầu, là việc xác định tất cả các
quy cách, chủng loại và thời gian nhận hàng, lập đơn hàng là công việc hết sức
quan trọng của quá trình tổ chức mua sắm vật t, vì nó ảnh hởng trực tiếp tới quá
trình mua sắm vật t và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Bất cứ một sai sót nào cũng có thể dẫn tới việc đặt mua những vật t mà
nhu cầu sản xuất không cần tới hoặc không đủ so với nhu cầu. Để lập đợc đơn
hàng chính xác bộ phận lập đơn hàng phải tính đến các cơ sở nh: nhiệm vụ sản
xuất, hệ thống định mức tiêu dùng vật t, định mức dự trữ vật t, lợng tồn kho, kế
hoạch tác nghiệp đảm bảo vật t quý, tháng Nhiệm vụ quan trọng trong công
tác lập đơn hàng là chọn và đặt mua những loại vật t hàng hoá có hiệu quả kinh
tế cao.
2.1.5. Tổ chức chuyển đa vật t về doanh nghiệp
Vận chuyển vật t hàng hoá về doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo vật t kịp thời, đầy đủ và đồng bộ cho sản xuất. Công việc
này ảnh hởng trực tiếp tới việc giữ gìn số lợng, chất lợng vật t hàng hoá, đảm
bảo sử dụng có hiệu quả và hạ giá thành sản phẩm. Chuyển đa vật t về doanh
nghiệp có thể thực hiện bằng hình thức tập trung hoặc phi tập trung tuỳ theo
khối lợng vật t và tình hình cụ thể từng doanh nghiệp.
2.1.6. Tiếp nhận và bảo quản vật t về số lợng và chất lợng
Vật t hàng hoá chuyển về doanh nghiệp trớc khi nhập kho phải qua khâu
tiếp nhận về số lợng và chất lợng. Mục đích của tiếp nhận là kiểm tra số lợng và
chất lợng vật t nhập kho, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng và đa hàng xem có
bảo đảm số lợng và chất lợng hay không để xác định rõ trách nhiệm của những
đơn vị và cá nhân có liên quan đến hàng nhập.
2.1.7. Tổ chức cấp phát vật t trong nội bộ doanh nghiệp
Cấp phát vật t cho các đơn vị tiêu dùng trong doanh nghiệp (phân xởng,
tổ đội sản xuất, nơi làm việc của công nhân) là một khâu công hết sức quan
trọng. Tổ chức tốt khâu này sẽ bảo đảm cho sản xuất của doanh nghiệp tiến
hành đợc nhịp nhàng, góp phần tăng năng suất lao động của công nhân, tăng
nhanh vòng quay của vốn lu động, nâng cao chất lợng và hạ giá thành sản
phẩm, tiết kiệm vật t trong tiêu dùng sản xuất, nâng cao hiệu quả cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
2.2. quá trình sản xuất sản phẩm
quá trình sản xuất là quá trình con ngời sử dụng t liệu để tác động vào
đối tợng lao động làm thay đổi hình dáng, kích thớc, tính chất lý hoá của đối t-
ợng lao động để tạo ra những sản phẩm có chất lợng ngày càng cao, thỏa mãn
đầy đủ nhu cầu đa dạng của con ngời.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất
kinh doanh, nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của thị tr-
ờng và thu về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định. Để thực hiện đợc mục
tiêu của mình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành nhằm
thực hiện chức năng cơ bản. Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý
nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội.
Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và
yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị
trờng. chỉ có hoạt động sản xuất hay dịch vụ mới là nguồn gôc của mọi sản xuất
và dịch vụ đợc tạo ra trong doanh nghiệp. Sự phát triển của sản xuất và dịch vụ
là cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trởng kinh tế cho nền
kinh tế quốc dân tạo cơ sở vật chất thúc đẩy xã hôi phát triển. quá trình sản
xuất đợc tổ chức và quản lý tốt góp phần tiết kiệm đợc các nguồn lực cần thiết
cho sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Chất lợng sản phẩm và dịch vụ do khâu sản xuất và dịch vụ tạo ra, nếu hoàn
thiện đợc quản trị sản xuất sẽ tạo ra tiềm năng to lớn cho nâng cao năng suất,
chất lợng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.3. Tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ
sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đa sản phẩm từ nơi
sản xuất tới nơi tiêu dùng. Nó là khâu lu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian
một bên là sản xuất và phân phối còn một bên là tiêu dùng.
Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc
nghiên cứu thị trờng, xác định nhu cầu của khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ
tiêu thụ, xúc tiến bán hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Hoạt động
tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp bao gồm hai loại quá trình liên quan trực
tiếp tới sản phẩm: các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và các nghiệp vụ kinh tế, tổ
chức và kế hoạch hoá tiêu thụ. Việc chuẩn bị hàng hoá để xuất bán là nghiệp vụ
tiếp tục sản xuất trong khâu lu thông, các nghiệp vụ sản xuất ở các kho bao
gồm: tiếp nhận, phân loại, bao gói, lên nhãn hiệu sản phẩm, xếp hàng ở kho,
bảo quản và chuẩn bị đồng bộ hàng để xuất bán và vận chuyển hàng theo yêu
cầu của khách. Khi sản phẩm của doanh nghiệp đợc tiêu thụ, tức là nó đã đợc
ngời tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ sản
phẩm ở doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lợng
của sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu ngời tiêu dùng và sự hoàn thiện ở các
hoạt động dịch vụ.
Tiêu thụ sản phẩm gắn ngời sản xuất với ngời tiêu dùng, nó giúp cho các
nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu của khách
hàng. Về phơng diện xã hội thì nó có vai trò trong việc cân đối giữa cung và
cầu, sản phẩm sản xuất ra đợc tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cách
bình thờng trôi chảy, tránh đợc sự mất cân đối, giữ đợc bình ổn trong xã hội.
Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn vị xác định phơng hớng và bớc đi của
kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo.
Sơ đồ 1.2: Mô hình tiêu thụ sản phẩm
Nghiên cứu
thị trường
Thông tin
thị trường
Lập kế hoạch tiêu
thụ sản phẩm
Thị trường
hàng
hoá
dịch
vụ
Quản lý hệ
thống phân phối
Q.lý dự trữ và
hoàn thiện SP
Quản lý lực lư
ợng bán
Tổ chức bán
hàng và cung
cấp dịch vụ
Phối hợp và tổ
chức thực hiện
các kế hoạch
Thị trường
Sản phẩm
Dịch vụ
Giá, phân số
Phân phối, giao tiếp
Ngân quỹ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét